PHÂN TÍCH XU THẾ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THIÊN TAI KHÍ HẬU TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA Ở ĐÔNG NAM Á GIAI ĐOẠN 1983-2022
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu và tác động đáng kể đến kinh tế-xã hội, môi trường và con người. Đông Nam Á (ĐNA) được xem là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH do đặc thù về vị trí địa lý và điều kiện kinh tế-xã hội. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khuynh hướng, tác động của BĐKH và một số yếu tố có liên quan tại một số quốc gia ở ĐNA trong giai đoạn 1983-2022. Dữ liệu được thu thập gồm phát thải khí nhà kính (KNK), nhiệt độ trung bình năm, biến đổi nhiệt độ trung bình năm (TBN), tần suất thiên tai khí hậu (TTKH); thiệt hại về người và kinh tế; và các chỉ số rủi ro và năng lực ứng phó. Phân tích thống kê mô tả và phân tích tương quan được áp dụng nhằm định lượng mối liên hệ giữa phát thải KNK, nhiệt độ và TTKH ở một số quốc gia ĐNA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,34oC, biến đổi nhiệt độ TBN tăng khoảng 0,84oC và tần suất TTKH tăng gấp 2,3 lần trong giai đoạn 1983-2022. Các quốc gia chịu tác động mạnh bao gồm Philippines, Indonesia và Việt Nam. Mối tương quan có ý nghĩa giữa phát thải KNK và sự gia tăng nhiệt độ được ghi nhận ở 6/8 quốc gia nghiên cứu, trong khi đó mối quan hệ có ý nghĩa giữa nhiệt độ và tần suất TTKH được ghi nhận ở 3/8 quốc gia nghiên cứu (p<0,05) cho thấy sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và năng lực ứng phó. Trung bình đối với 8 quốc gia nghiên cứu, có khoảng 2.507 người/100.000 người bị ảnh hưởng bởi TTKH với thiệt hại kinh tế trung bình khoảng 0,42% GDP. Nghiên cứu góp phần làm rõ mối liên hệ giữa phát thải KNK, gia tăng nhiệt độ không khí và tần suất TTKH tại 8 quốc gia ĐNA trong giai đoạn 40 năm qua. Minh chứng từ nghiên cứu này là cơ sở cho việc phát triển các chính sách thiết yếu như cắt giảm phát thải KNK, tăng cường năng lực ứng phó nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH và thiên tai liên quan.